Kinh tế thế giới trong tuần: Chuyển động không ngừng

Các chuyên mục cũ Bốn phương
Thứ bảy, 04/6/2011 20:00 GMT+7
Kinh tế thế giới đang chứng kiến những thay đổi lớn, những chuyển động không ngừng. Một bức tranh nhiều sắc màu dần hiện hữu.

Nước Mỹ đang "vật lộn" với nợ công và thâm hụt ngân sách.

Trung Quốc đang diễn ra đợt điều chỉnh tỷ giá tương đối lớn nhằm từng bước nâng cao chất lượng tăng trưởng và đưa nền kinh tế tiến thêm một bước về chất.

Châu Âu dù không muốn cũng phải "thừa nhận" khủng khoảng nợ công là không hề đơn giản khi Hy Lạp đang "ngấp nghé" phải cứu trợ lần thứ hai.

Nhật Bản phải "nhận thấy" không chỉ thảm họa mà tăng trưởng cũng là vấn đề vô cùng nan giải...

Đây có thể là sự điều chỉnh hợp qui luật của các nền kinh tế sau khi khủng khoảng tài chính thế giới kết thúc.

Ở góc độ khác, các nền kinh tế lớn cần phải được làm mới nhằm thỏa mãn yêu cầu ngày càng cao của kinh tế thế giới hiện nay.

Mỹ: Nước Mỹ đang tạo ra cuộc khủng khoảng cho chính mình khi cảm thấy cuộc khủng khoảng năm 2008 là "chưa đủ".

Khi hai nhánh hành pháp và lập pháp chưa có sự đồng thuận hay nhất trí cao để giải quyết tình trạng nợ công chạm ngưỡng 14.290 tỷ USD cũng như có sự khác biệt lớn trong việc cắt giảm thâm hụt ngân sách...thì khủng khoảng là khó tránh.

Dư luận đã chứng kiến sự "trái chiều" tại quốc hội khi Hạ viện do đảng Cộng hòa chiếm đa số bác đề nghị nâng trần nợ công và Thượng viện do đảng Dân chủ chiếm đa số bác dự thảo ngân sách năm 2012.

Sự không đồng thuận nêu trên phản ánh nội tại nước Mỹ, nội tại kinh tế Mỹ có rất nhiều vấn đề chưa thể hoặc không thể giải quyết trong ngắn hạn và điều này đã gây nên sự khác biệt to lớn trong việc đánh giá kinh tế Mỹ của hai đảng Dân chủ và Cộng hòa.

Nếu không có thiện chí và sự thỏa hiệp kịp thời, khi vấn đề "ai thắng ai" chưa được rõ thì kinh tế Mỹ sẽ chịu thiệt hại đầu tiên và tăng trưởng chưa phải là "ưu tiên số một" trong chương trình nghị sự hiện nay.

Bộ trưởng Tài chính Mỹ Timothy Geithner tỏ ý lạc quan khi cho rằng khả năng đạt được thỏa thuận giữa Nhà trắng và Quốc hội là "rất cao" và nước Mỹ có thể ngăn chặn được khủng khoảng nợ.  Tuy nhiên không phải ai cũng lạc quan như ông Bộ trưởng Geithner vì với sự không ổn định của kinh tế Mỹ hiện nay, mọi sự  đều có thể xảy ra.

Cũng liên quan đến kinh tế Mỹ, khi QE2 sắp kết thúc thì những chính sách kinh tế có thể ban hành hậu QE2 đang được bàn thảo sôi nổi.

Nhiều quan điểm cho rằng, hậu QE2 lạm phát sẽ tăng cao và khuyến  cáo nên tăng lãi suất để chủ động ngăn chặn lạm phát và "bong bóng" tài sản. Quan điểm này được quan chức kỳ cựu của FED Thomas Hoenig ủng hộ mạnh mẽ.

Mặc dù không thuộc trường phái thắt chặt tiền tệ, nhưng ông Thomas Hoenig phải thừa nhận kinh nghiệm của quá khứ là "bài học" rất lớn. Ông nói: "Tôi không ủng hộ chính sách tiền tệ thắt chặt, nhưng tôi nghĩ chúng ta cần phải nâng lãi suất nếu muốn tránh vết xe đổ trước đây do môi trường tín dụng quá nới lỏng".

Liệu quan điểm này có "dọn đường" cho FED tăng lãi suất hay không, chúng ta sẽ cùng chờ và kiểm chứng.

Trung Quốc: Kinh tế Trung Quốc đang dần trở lại đúng qui luật vốn có của kinh tế thị trường. Lạm phát cao và tăng trưởng phải giảm nếu không muốn những điều bất thường xảy ra.

Các tổ chức chuyên nghiên cứu về kinh tế đều đưa ra nhận định rằng kinh tế Trung Quốc cần giảm tốc. Mặc dù về tổng quan, kinh tế Trung Quốc vẫn có tốc độ tăng trưởng cao nhất thế giới nhưng Goldman Sachs vẫn dự báo tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc trong quý II sẽ giảm từ 8,8% xuống còn 8%.

Điều này hoàn toàn phù hợp khi nhiều ngành kinh tế trong đó có sản xuất ôtô đã giảm sản lượng và qui mô sản xuất. Doanh số bán xe hơi đã sụt giảm khi chỉ tăng 7% trong tháng 4. Điều này phản ánh sự đảo chiều mạnh nếu so với mức tăng trưởng từ 20-120% trong năm 2010.

Không những vậy, một trong những "biểu tượng" của kinh tế Trung Quốc thời gian vừa qua là xây dựng các tuyến tàu cao tốc và cơ sở hạ tầng khác đã có dầu hiệu chững lại.

Hiệu quả kinh tế của các dự án tàu cao tốc đang được xem xét trong bối cảnh thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng và tăng cường chống lạm phát.

Trong một diễn biến khác, tốc độ tăng giá của đồng NDT tiếp tục diễn ra như là quá trình không thể đảo ngược. Tỷ giá 6,4845 NDT/USD được xác lập trong tuần vừa qua đã hiện thục hóa xu thế tăng giá đồng NDT trong thời gian vừa qua.

Như vậy kể từ tháng 6/2010, đồng NDT đã tăng 5,36% so với đồng USD, hay 1,71% nếu tính từ đầu năm 2011 đến nay.

Mọi sự thay đổi đều tạo ra những cơ hội và thách thức cho nền kinh tế, điều này cũng đúng trong việc điều chỉnh tỷ giá đồng NDT trong suốt 1 năm qua. Đến thời điểm hiện tại, không có bất thường xảy ra đối với nền kinh tế đã là thành công của chính sách tỷ giá củaTrung quốc hiện nay.

Châu Âu: Trong khi lạm phát tháng 5 hạ nhiệt xuống còn 2,7% thì EU, Eurozone tiếp tục "vất vả" với chương trình "giải cứu" Hy Lạp phiên bản II.

Nếu gói cứu trợ lần thứ hai cho Hy Lạp được thông qua trong thời gian tới thì Châu Âu cũng nên xem lại chiến lược xử lý khủng khoảng trong nội khối nhằm chủ động ứng phó với các tình huống phát sinh trong tương lai.

Cần biết rằng EU gần 20 tuổi, Eurozone mới 12 tuổi là khoảng thời gian "cực ngắn" và các tình huống phát sinh là không tránh khỏi.

Vấn đề ở chỗ EU và Eurozone cần có chiến lược xử lý khủng khoảng trong nội khối cho phù hợp để các hiện tượng như Hy Lạp, như Ireland và Bồ Đào Nha nếu xuất hiện trong tương lai cũng không phải là nguy cơ lớn đối với sự tồn tại của Eurozone và đồng Euro.

Nhất thể hóa ở Châu Âu là xu thế, nhưng nhất thể hóa về tài chính, tiền tệ song hành với chủ quyền của 17 quốc gia thuộc Eurozone quả là bài toán khó giải và chưa có tiền lệ. Đó là thực tế hiện nay của Châu Âu.

Nhật Bản: Kinh tế Nhật Bản đã có dấu hiệu phục hồi sau tháng 3 "đen tối".

Mức tăng 1% của tháng 4 do Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản (METI) công bố vừa qua đã phản ánh phần nào sự phục hồi của kinh tế Nhật Bản sau thảm họa động đất và sóng thần trong tháng 3 vừa qua.
 
Cần biết rằng kinh tế Nhật Bản đã suy giảm 15,5% trong tháng 3 và là thách thức nghiêm trọng nhất đối với Nhật Bản kể từ sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 năm 1945.

Những chương trình tái thiết sau thảm họa đã được thông qua, thậm chí viện trợ ODA cũng phải cắt giảm 20% cho thấy quyết tâm mạnh mẽ của Nhật Bản trong việc khắc phục hậu quả thảm họa.

Điều cần biết là chương trình tái thiết còn phụ thuộc vào nhiều tham số, trong đó tỷ giá đồng Yên ở mức cao, dầu mỏ tăng hay lạm phát trên qui mô toàn cầu...là những lực cản đòi hỏi Nhật Bản phải xử lý một cách có hiệu quả.

Nếu khác đi, kinh tế Nhật Bản có lẽ khó tăng trưởng trong tương lai gần.

Lưu Văn Vinh (tổng hợp)


Ý kiến của bạn