Tái cấu trúc DNNN trong giai đoạn phát triển mới

Các chuyên mục cũ Điểm nhìn
Thứ bảy, 03/3/2012 0:33 GMT+7
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trong phát biểu bế mạc Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa Xày (diễn ra từ ngày 6-10/10/2011), đã nhấn mạnh: Trong năm 2012 và những năm tiếp theo, Việt Nam sẽ ưu tiên hàng đầu cho việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, tập trung vào 3 lĩnh vực quan trọng nhất: Tái cấu trúc đầu tư với trọng tâm là đầu tư công; cơ cấu lại thị trường tài chính với trọng tâm là tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính; tái cấu trúc DNNN (doanh nghiệp nhà nước) mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước…

Ngày 17/1/2012, Thủ tướng Chính phủ cũng đã ban hành Chỉ thị số 03/CT-TTG về việc đẩy mạnh tái cơ cấu DNNN. Theo đó, các Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc TW, các tập đoàn kinh tế, TCT nhà nước cần tập trung hoàn thiện đồng bộ cơ chế, chính sách đối với DNNN, tạo thuận lợi hơn cho đổi mới, tổ chức hoạt động, quản lý, sắp xếp, chuyển đổi sở hữu DNNN, trong quý I/2012 trình Thủ tướng hoặc ban hành theo thẩm quyền…

Tái cấu trúc DNNN là một quá trình đã triển khai từ lâu, nhưng chưa hiệu quả

Trên thực tế, quá trình Tái cấu trúc DNNN ở Việt Nam đã được khởi phát với tên gọi đổi mới và sắp xếp lại các DNNN từ đầu thập niên 1990, với chủ trương buộc giải thể, cho thuê, sát nhập một số DNNN hoạt động kém hiệu quả; tiến hành cổ phần hóa một bộ phận lực lượng DNNN (thí điểm từ năm 1993 và tăng tốc mở rộng từ năm 1996); xây dựng các tổng công ty (90 và 91) năm 1994, ban hành Luật DNNN năm 1995, thí điểm tổ chức tập đoàn kinh tế nhà nước năm 2005 v.v...

Cho đến nay, khu vực DNNN đã giảm nhanh về số lượng, từ khoảng 12.000 DN vào năm 1991, thì nay còn khoảng 1500 doanh nghiệp; trong khi quy mô tài sản và vốn chủ sở hữu tăng lên hàng chục lần so với thời kỳ đầu. Cả nước có 12 tập đoàn KTNN và trên 80 TCT đang hoạt động, với nguồn vốn chủ yếu dựa vào NSNN (chuyển cơ chế giao vốn sang cơ chế đầu tư vốn) như là động lực quan trọng nhất cho sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong việc định hình và phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế-xã hội quốc gia, đầu tư mồi, tạo cú huých và duy trì động lực tăng trưởng, tạo việc làm xã hội và bảo đảm sự ổn định chung của nền kinh tế…

Tuy nhiên, tính đến thời điểm 1.7.2010, khi Luật DNNN hết hiệu lực, mục tiêu tổ chức sắp xếp lại DNNN đề ra đã không đạt được, tiến trình CPH bị trì trệ. Nhiều DNNN độc lập hoặc Tổng công ty nước cần CPH, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp mang tính hình thức từ công ty nhà nước thành Cty TNHH một thành viên.

 Theo số liệu mới nhất của Tổng cục Thống kê năm 2011và Báo cáo của Ban chỉ đạo đổi mớiphát triển doanh nghiệp ngày 15-2-2011 cho thấy, tính đến cuối năm 2010, cả nước có 1.207 DNNN là công ty TNHH một thành viên và 1.900 doanh nghiệp mà Nhà nước có cổ phần chi phối. Hàng năm có khoảng 12% DNNN bị lỗ trong sản xuất kinh doanh, trong khi khu vực doanh nghiệp nói chung là 25%. Tuy nhiên, mức lỗ bình quân của một DNNN lại cao hơn 12 lần so với các doanh nghiệp khu vực khác. Chỉ tiêu hệ số thu nhập trên tài sản và hệ số thu nhập vốn cổ phần của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 20,8%, thua xa khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài. Quy mô vốn chủ sở hữu của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 540.701 tỷ đồng (tăng 11,75% so với năm 2009);  tổng lợi nhuận trước thuế là 70.778 tỷ đồng; chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế trên vốn chủ sở hữu chỉ đạt khoảng 13,1%, thấp hơn nhiều so với lãi suất vay ngân hàng thương mại. Đặc biệt, có đến 80% tổng số lợi nhuận trước thuế đến từ 4 tập đoàn: dầu khí, viễn thông quân đội, bưu chính viễn thông và cao su, nghĩa là ở các tập đoàn, TCT còn lại, tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu còn thấp hơn nữa).

Báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, cho hay, DNNN hiện chiếm tới 70% vốn đầu tư toàn xã hội, 50% vốn đầu tư Nhà nước, 60% tín dụng và 70% tổng nợ khó đòi của các ngân hàng thương mại, 70% vốn ODA.

Về tổng thể, các DNNN đang chiếm giữ một nguồn lực rất lớn của nền kinh tế, nhưng sự đóng góp cho nền kinh tế hoàn toàn không tương xứng, xét về tỷ trọng đóng góp cho GDP (khoảng 27-28% GDP), giải quyết việc làm, hiệu quả sử dụng các yếu tố sản xuất (đất đại, tiền vốn, nguyên vật liệu..). Cơ chế quản lý vẫn còn nhiều bất cập, như chưa rõ ràng quyền quản lý nhà nước đối với DNNN, vai trò của chủ sở hữu hoặc người đại diện chủ sở hữu, vai trò và cơ chế trách nhiệm, quyền lợi của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên; trong khi quyền chủ động điều hành sản xuất, kinh doanh của DNNN lại bị hạn chế; cơ chế tài chính và cơ chế phân phối lợi nhuận của doanh nghiệp, sự gắn kết lợi ích vật chất với trách nhiệm của người quản lý và đội ngũ lao động v.v…chưa được luật hóa. Hoạt động của nhiều tập đoàn KTNN luôn đi cùng với lãng phí và tốn kém, thậm chí với mức độ ngày càng nặng nề, làm gia tăng nhiều hệ quả tiêu cực to lớn và kéo dài khác về ép lạm phát, mất cân đối vĩ mô –trong đó có cân đối ngành, sản phẩm, cán cân xuất - nhập khẩu, cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối và tích lũy-tiêu dùng, cũng như mất cân đối và gia tăng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, địa phương  và bộ phận dân cư trong xã hội; tăng tình trạng tham nhũng và bóp méo cơ chế kinh tế thị trường; hạn chế sức cạnh tranh và chất lượng  phát triển của nền kinh tế trong hội nhập…

Đặc biệt, trong quản lý DNNN vẫn còn sự nhập nhằng giữa mục tiêu lợi nhuận và phi lợi nhuận, quản trị kém hiệu quảchưa đảm nhận được vai trò  sự can thiệp mang tính chủ đạo của lực lượng kinh tế nhà nước ngay cả trong  cung cấp hàng hoá và dịch vụ công cộng và các ngành kinh tế có hiệu quả sinh lời thấp, nhưng cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, như cơ khí chế tạo, công nghiệp phụ trợ, thị trường bất động sản thứ cấp, ứng dụng và phát triển công nghiệp công nghệ cao….

Nhìn lại chương trình cải cách DNNN 20 năm nay, đó là quá trình cải cách đầy “mâu thuẫn, trăn trở và đau đớn” và thời điểm hiện nay kế hoạch cải cách khó khăn hơn rất nhiều, vì liên quan đến ý thức hệ, các tập đoàn lớn, nhóm lợi ích. Yếu kém của DNNN nằm ngay trong bất cập về lý luận, quan điểm, mục tiêu phát triển DNNN vừa qua. Đặc biệt, khu vực DNNN vẫn còn chịu sự áp đặt khiên cưỡng và tham vọng khi cùng lúc phải thực hiện, trong khi thiếu phân biệt cơ chế hoạt động và giám sát thích hợp, với cả 2 tư cách: vừa phải hướng tới lợi nhuận và hiệu quả trong sự cạnh tranh thị trường với các loại hình doanh nghiệp khác, đồng thời vừa phải là công cụ chủ lực để Nhà nước can thiệp ổn định kinh tế vĩ mô và xã hội theo mục tiêu lựa chọn. Thậm chí, có DNNN hiện còn không phân biệt rõ có mục tiêu chính là gì, mục tiêu phụ là gì? Dẫn đến hiện tượng phổ biến trong khu vực DNNN là tư tưởng chụp giựt, tranh thủ “đục nước béo cò”, lạm dụng đầu tư không hợp lý, thiếu tập trung và dứt điểm cho các công trình trọng điểm có khả năng lan tỏa, dẫn dắt chuyển đổi cơ cấu kinh tế; chế quản lý kém, thiếu minh bạch, khép kín, nạn tham nhũng, lợi ích cục bộ, phe nhóm, địa phương, sự nể nang cảm tính và tư duy nhiệm kỳ; thiếu kiểm soát và chế tài kịp thời, nghiêm khắc, trách nhiệm chưa rõ ràng và nhất là do thiếu phối hợp đồng bộ các chính sách, các cấp, ngành và các bên hữu quan trên cơ sở một Luật đầu công tư còn thiếu vắng ở nước ta…

Để nâng cao hiệu quả tái cấu trúc DNNN trong thời gian tới

Cả về lý thuyết, cũng như thực tiễn cho thấy, để quá trình tái cấu trúc DNNN thực sự góp phần nâng cao hiệu quả đầu tư công nói riêng, hiệu quả kinh tế-xã hội đất nước nói chung, cần chú ý một số khía cạnh sau:

Thứ nhất, tái cơ cấu DNNN trên cơ sở, tôn trọng, vận dụng đầy đủ, đúng đắn các quy luật, nguyên tắc của kinh tế thị trường.

Cần xem nhu cầu thị trường, cơ chế thị trường và hiệu quả, lợi ích là căn cứ chính để quyết định việc phân bổ các nguồn lực cho phát triển; đồng thời, có biện pháp tích cực ngăn ngừa và khắc phục những hạn chế, mặt trái của cơ chế thị trường. Yêu cầu đổi mới, hội nhập và phát triển bền vững đòi hỏi Nhà nước không bao cấp rủi ro cho doanh nghiệp, nhưng cũng không tạo ra những rủi ro cho doanh nghiệp bằng các quyết định hành chính của mình. Cần sớm khác phục một nghịch lý là, hiệu lực và hiệu quả quản lý Nhà nước về kinh tế chưa cao là do sự can thiệp của Nhà nước, ở nhiều cấp chính quyền khác nhau, không phù hợp với sự vận động của thị trường; Nhưng mặt khác, Nhà nước lại thiếu công cụ và cơ chế giám sát, chế tài để bảo đảm các chủ thể tham gia các quan hệ thị trường tuân thủ “luật chơi” đã đề ra. Vì vậy, cần khẩn trương xây dựng Luật quản lý vốn Nhà nước hoặc Luật đầu tư công tạo cơ sở pháp lý cần thiết điều chỉnh bằng Luật đối với các hoạt động đầu tư công, trong đó có đầu tư của các DNNN trong 2 dạng hoạt động vì lợi nhuận và phi lợi nhuận.

Về dài hạn, cần chủ động giảm thiểu dần đầu tư công, tăng đầu tư ngoài NSNN trong tổng đầu tư xã hội; Tái cơ cấu đầu tư công, tăng đầu tư phát triển các dịch vụ phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiêu thụ nông sản; khoa học &công nghệ, đào tạo và y tế; tiết giảm việc cấp vốn ngân sách cho nhu cầu đầu tư của khối các Tổng công ty; Tập đoàn Nhà nước và chuyển trọng tâm đầu tư công ra ngoài lĩnh vực kinh tế, để tập trung vào phát triển các lĩnh vực hạ tầng và xã hội. Đồng thời, kiên quyết thẳng tay cắt những dự án đầu tư nếu không đạt các tiêu chí về hiệu quả kinh tế - xã hội và chưa bảo đảm các yêu cầu về thủ tục, tập trung vốn cho các dự án bảo đảm hoàn thành trong hạn định và có hiệu quả cao; cắt giảm các công trình đầu tư công bằng nguồn ngân sách có quy mô quá lớn, chưa thật cấp bách, có thời gian đầu tư dài. Khuyến khích các chủ đầu tư huy động vốn ngoài ngân sách để đầu tư theo phương thức chìa khóa trao tay, có đặt cọc bảo hành - bảo đảm chất lượng công trình.

Đặc biệt, cần phân định rõ thẩm quyền, nghĩa vụ của từng cấp từ Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, của Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) trong thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu và phần vốn Nhà nước đầu tư vào doanh nghiệp khác. 

Các Bộ được giao làm đại diện chủ sở hữu tổ chức theo dõi, kiểm tra, giám sát, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp  theo cơ chế giám sát và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước. Việc đầu tư, kế hoạch sản xuất hàng năm, huy động vốn... thực hiện theo quy định của pháp luật tương ứng. Nghiên cứu để phân cấp cho Hội đồng thành viên có thẩm quyền quyết định việc thành lập chi nhánh. Việc thành lập mới doanh nghiệp phải báo cáo chủ sở hữu. Việc huy động vốn có liên quan đến ngoài nước phải có thẩm định của Bộ Tài chính. Nội dung phê duyệt, thẩm định, chấp thuận cần được cụ thể hóa trong văn bản hướng dẫn thực hiện Nghị định này; Xây dựng Nghị định riêng đối với Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước theo nguyên tắc tập trung vốn của các doanh nghiệp nhỏ để đầu tư cho doanh nghiệp lớn…

Không nên đóng khung sự phối hợp  chính sách chỉ trong nội bộ các cơ quan chính phủ với các doanh nghiệp nhà nước, mà cần gắn kết chặt chẽ,mở rộng dân chủ hóa với giới doanh nghiêp và viện, trường và các tầng lớp dân chúng khác. Sử dụng chuyên gia trong nước và nước ngoài có trình độ và khách quan nhằm đánh giá, phản biện độc lập các tác động 2 mặt của dự án đầu tư công lớn. Làm tốt việc này sẽ hạn chế bớt những hoạt động đầu tư công gắn với lợi ích cục bộ, chủ quan và ngắn hạn của các quan chức chuyên nghiệp và  chính trị trong đầu tư công.

Thứ hai, tái cơ cấu DNNN phải có tầm nhìn xa, vì lợi ích tổng thể xã hội, không bị "tư duy nhiệm kỳ", tư tưởng cục bộ, bệnh thành tích, chủ quan duy ý chí hay "lợi ích nhóm" chi phối;

Dù có xu hướng ngày càng giảm thiểu, thu hẹp, song như kinh nghiệm thế giới chỉ ra, tái cấu trúc DNNN trong bối cảnh mới không phải là xóa bỏ triệt để các doanh nghiệp này, mà là làm cho chúng ngày càng hoạt động tốt hơn, hiệu quả hơn và đóng góp nhiều hơn cho kinh tế quốc gia trong mô hình kinh tế thị trường. Tự bản chất sở hữu của mình, sẽ luôn tồn tại xung đột lợi ích về cơ chế người đại diện chủ sở hữu Nhà nước và rủi ro đạo đức, giữa kiểu tranh thủ "làm liều" và trách nhiệm đảm bảo hiệu quả tổng thể trong hoạt động của DNNN. Điểm mấu chốt quan trọng cần giải quyết là quản trị trong DNNN. Theo đó, hai yếu tố phải đạt được là sự minh bạch và giảm thiểu những xung đột nội tại của khu vực doanh nghiệp này.

Để việc tái cấu trúc DNNN có hiệu quả đòi hỏi phải có cách làm mới, có lộ trình, quyết liệt và thực chất. Muốn làm được điều đó cần phải bắt đúng bệnh và phân định rõ chức năng của DNNN chứ không đơn thuần cứ tiến hành theo kiểu phong trào. Do đó, nội dung cơ bản của chiến lược tái cấu trúc DNNN thời gian tới là phải kiên quyết sắp xếp các tập đoàn, tổng công ty thua lỗ kéo dài, chấn chỉnh hoạt động đầu tư ngoài ngành; sắp xếp, cổ phần hóa DNNN dựa trên cơ sở thị trường; cần thay đổi nhận thức, quan điểm vai trò chủ đạo của khu vực này. Về cơ bản, trong điều kiện hiện tại, Nhà nước chỉ nên duy trì DNNN trong một số ngành, lĩnh vực quan trọng như: an ninh quốc phòng; xây dựng tài nguyên chiến lược quan trọng và không có khả năng tái tạo; đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế… và trong những lĩnh vực mà kinh tế tư nhân không thể thực hiện hoặc thực hiện không hiệu quả, những khâu quyết định nền tảng phát triển kinh tế của xã hội.

Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không phải ở số lượng lớn các DNNN mà ở năng suất, chất lượng và hiệu quả hoạt động; ở những khâu then chốt có khả năng định hướng, điều tiết và đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế. Vì vậy, chế độ quản lý của Nhà nước đối với các DNNN trong giai đoạn tới cần đổi mới theo hướng như: chỉ nên để DNNN công ích thực hiện các mục tiêu xã hội, còn DNNN kinh doanh chỉ kinh doanh và buộc phải hoàn thành tốt, có hiệu quả kinh doanh cao nhất; hoàn thiện chế độ kế toán của các tập đoàn, tổng công ty để đánh giá chính xác hiệu quả hoạt động; Phải gắn hiệu quả kinh doanh của DNNN với lợi ích cá nhân của người đứng đầu. Thay vì bổ nhiệm các chức danh chủ chốt bằng những quyết định không có điều kiện ràng buộc, thiếu công khai minh bạch chuyển sang tuyển chọn công khai các ứng cử viên trong xã hội trên cơ sở những yêu cầu về tăng năng suất, lợi nhuận; cần sắp xếp lại các doanh nghiệp có nguy cơ vỡ nợ, khó khăn để xử lý; đẩy mạnh cổ phần hóa để đặt DNNN lớn vào môi trường cạnh tranh; áp dụng quản trị doanh nghiệp hiện đại, tốt nhất theo thông lệ quốc tế; đặt giám đốc điều hành vào môi trường cạnh tranh sẽ tránh được chuyện tranh cãi lương bổng...

Đồng thời, cần có sự đổi mới quy trình và phương pháp thực hiện quy hoạch, đi từ yêu cầu và mục tiêu tổng thể chung của cả nước, đến các vùng lãnh thổ, rồi mới đến từng địa phương, cơ sở. Đặc biệt, cần khẩn trương xác định các tiêu chí và thứ tự ưu tiên làm căn cứ để tái cấu trúc tổ chức và quản lý DNNN, khắc phục tình trạng trì trệ hoặc lạm dụng, trục lợi, thậm chí tái cấu trúc kiểu “râu ông nọ cắm càm bà kia” trong phân công chủ quản và “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong chỉ đạo, điều hành… Tiếp tục đẩy mạnh cổ phần hóa, kể cả CPH toàn Tcty giảm, thu hẹp tỷ trọng  và giảm thiểu số lượng doanh nghiệp mà Nhà nước giữ cổ phần chi phối, chỉ duy trì DN 100% vốn nhà nước trong những ngành, lĩnh vực mà nhà nước cần độc quyền, giữ vị trí then chốt của nền kinh tế và các lĩnh vực mà doanh nghiệp khu vực kinh tế tư nhân không hoặc chưa muốn, chưa có khả năng tham gia; ủng hộ thành lập tập đoàn kinh tế tư nhân và ưu tiên  xây dựng các mô hình tập đoàn kinh tế đa sở hữu, với vai trò nòng cốt là DNNN, đảm nhận vai trò chủ lực trong nền kinh tế, được vận hành theo đúng quy luật kinh tế trên cơ sở sự tự nguyện thoả thuận liên kết, hợp tác giữa các pháp nhân độc lập...

Thứ ba, trong quá trình tái cấu trúc DNNN, mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế và tổng công ty nhà nước, phải kiên quyết chấm dứt tình trạng các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước đầu tư dàn trải ra ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính.

  Hội nghị TW 3 yêu cầu hoàn thành thoái vốn đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn này trước năm 2015 và tập trung phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô; Nghiên cứu chỉnh sửa giảm tỷ trọng xuống dưới 10%, thậm chí  bãi bỏ sớm quy định hiện về cho phép  DNNN được phép đầu tư “trái ngành” tối đa 30% tổng nguồn vốn đầu tư, vào các lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, mức vốn đầu tư công ty nhà nước không được vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức nhận góp vốn, nhưng mức vốn góp của công ty mẹ và công ty con trong tổng công ty, tập đoàn không vượt quá mức 30% vốn điều lệ của tổ chức nhận góp vốn…

Cần xây dựng bộ tiêu thức phù hợp và chuẩn hóa để tạo căn cứ lựa chọn và thông qua các dự án đâu theo công theo lĩnh vực và yêu cầu đầu tư, mục tiêu kinh tê-xã hội, môi trường, cũng như các lợi ích quốc gia và địa phương, ngành, cụ thể và dài hạn; có phân biệt 2 loại mục tiêu và 2 loại tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư công-đầu tư vì lợi nhuận và đầu tư phi lợi nhuận, khắc phục sự nhập nhằng giữa nguồn vốn hoạt động vì lợi nhuận với nguồn vốn hoạt động phi lợi nhuận, cũng như giữa trách nhiệm xã hội của  các tập đoàn KTNN đối với ổn định kinh tế vĩ mô với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh, dễ  dẫn đến đầu tư của tập đoàn vừa  bị phân tán, vừa dễ bị lạm dụng, kém hiệu quả.

Thứ tư, đổi mới cơ chế quản trị DNNN, bảo đảm công khai, minh bạch về tài chính.

 Đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động của doanh nghiệp nhà nước theo hướng chuyển sang tổ chức và hoạt động theo mô hình công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn phù hợp với quy định của Luật Doanh nghiệp, cạnh tranh bình đẳng trên thị trường đối với những hoạt động kinh doanh vị lợi nhuận…Trước mắt, cần sửa đổi ngay những quy định không phù hợp liên quan đến vấn đề xác định giá trị doanh nghiệp, chọn đối tác chiến lược, bán cỗ phần ưu đãi cho người lao động... Đồng thời, làm rõ hơn vai trò của chủ sở hữu hoặc người đại diện chủ sở hữu; quyền chủ động điều hành sản xuất, kinh doanh của tập đoàn với yêu cầu đầu tư của Nhà nước vì lợi ích chung; vai trò và cơ chế trách nhiệm, quyền lợi của Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên. Đặc biệt, sự phân cấp quản lý cần thống nhất và rõ ràng, gắn với chịu trách nhiệm liên đới của từng tổ chức, cá nhân trong quản lý đầu DNNN; Công khai các thông tin, quy trình, thủ tục, danh mục dự án, tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các dự án đầu tư của DNNN. Bên cạnh hệ thống giám sát nhà nước, cũng cần xem xét bổ sung quy định các hoạt động đầu tư công chịu sự giám sát của cộng đồng, xác lập quyền và trách nhiệm của cộng đồng trong vai trò giám sát đối với các hoạt động đầu tư của DNNN; nghiên cứu quy định rõ các hành vi bị cấm và các chế tài đủ mạnh để xử lý các hành vi vi phạm ở các mức độ khác nhau; góp phần ngăn chặn những hành vi tiêu cực và làm cơ sở pháp lý để xử lý các sai phạm trong đầu tư của DNNN...

Việc “áp khoán” cắt giảm tối thiểu từ 5-10% phí tài chính của các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước là yêu cầu bắt buộc thực hiện Nghị quyết 01 của Chính phủ để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong năm 2012. Đặc biệt, cần nhấn mạnh rằng, đây là giải pháp khoong mới nhưng thiết thực, hiệu quả và lâu dài cho các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Trước mắt, Tập đoàn Bảo Việt, Tập đoàn dệt may Việt Nam, EVN, Vinalines, Petrolimex… đã và sẽ tiếp tục đi tiên phong, để đến hết quý I/2012, tất cả các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước sẽ thực hiện Nghị quyết này và có kế hoạch báo cáo Bộ Tài chính để Bộ tổng hợp và báo cáo với Chính phủ. Chủ trương tiết giảm chi phí trong hoạt động của các doanh nghiệp Nhà nước là cần thiết và đúng đắn, bởi tiết kiệm chi phí sản xuất nói chung, chi phí tài chính nói riêng là yêu cầu và cách thức để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh ngày càng mở rộng toàn cầu hóa, hội nhập và cạnh tranh thị trường gay gắt hơn. Đối với các DNNN, đó còn là biểu hiện của mục tiêu nâng cao trách nhiệm xã hội của các DNNN tương xứng với vai trò của khu vực này trong nền kinh tế đất nước. Thực tế cho thấy, các DNNN nói chung, các tập đoàn và TCT Nhà nước nói riêng còn nhiều dư địa cho chủ trương tiết kiệm chi phí tài chính, gắn với sự cồng kềnh của bộ máy, sự lãng phí trong đầu tư và chi tiêu, cùng nhiều kẽ hở trong quản lý tài chính vĩ mô và vi mô, cả từ phía Nhà nươc, cũng như từ phía doanh nghiệp.

Trước hiện tượng lãng phí trong chi tiêu và đầu tư công ở khu vực kinh tế Nhà nước đã và đang diễn ra ngày càng nặng nề, bất chấp các quy luật kinh tế và quy định pháp lý chung, chủ trương này là tín hiệu mới cho thấy quyết tâm của Chính phủ trong xiết chặt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước đối với các doanh nghiệp Nhà nước, nhằm tạo chuyển biến mạnh thực sự trong phát triển kinh tế đất nước theo con đường bền vững hơn. Hơn nữa, thay vì kêu gọi chung chung, đã đến lúc cần lượng hóa các yêu cầu quản lý Nhà nước thành các chỉ tiêu định lượng và tài chính bắt buộc trong quản lý Nhà nước đối với DNNN. Vì vậy, đối với một số tập đoàn và TCT Nhà nước, hoàn toàn có thể nâng cao hơn tỷ lệ tiết kiệm trên 10%...Để thực hiện tốt chủ trương này, mỗi doanh nghiệp cần có phương án tổng thể và bước đi cụ thể, thích hợp với đơn vị mình; tăng cường tái cấu trúc, trong đó có tái cấu trúc sản phẩm, thị trường, công nghệ và bộ máy  quản lý, tuân thủ các quy định chung về quản lý Nhà nước, đồng thời đáp ứng các nguyên tắc thị trường ngày càng đầy đủ hơn. Đặc biệt, đi sâu vào cải cách cơ chế quản trị tài chính và giảm chi phí thường xuyên, các chi phí phi sản xuất, cũng như các chi phí làm tăng giá thành; tăng cường phân công trách nhiệm cá nhân rõ ràng trong các quy trình quản lý; áp dụng các chế độ khoán chi và kiểm soát chi tài chính vừa nghiêm ngặt, vừa mềm hóa, hướng đến kết quả coi trọng chất lượng sản phẩm cuối cùng và hiệu quả đầu ra; tăng cường cập nhật, chính xác, minh bạch hóa và công khai hóa thông tin tài chính; nhất là các thông tin về chi tiêu thường xuyên của từng đơn vị, công đoạn, và quy trình hoạt đông và quản lý của doanh nghiệp. Xây dựng, công khai và kiểm soát áp dụng chặt chẽ các chế tài đủ nghiêm khắc nhằm hạn chế và xử lý kịp thời các quyết định đầu tư và chi tiêu vô trách nhiệm, thiếu hiệu quả và các hành vi tham nhũng, lãng phí tài chính các loại khác.

Điều cần nhấn mạnh là các tập đoàn, TCT và DNNN phải bảo đảm để các quy định và hoạt động tiết kiệm đó là thực chất, tránh hình thức kiểu “được chỗ hà, ra chỗ hổng”, hoặc “đánh bùn sang ao”…Vì vậy, quy định bổ sung những khoản nộp NSNN bắt buộc từ các khoản tiết kiệm này về NSNN các cấp là điều cần làm trong thu và quản lý NSNN thời gian tới…/.

Ts.Nguyễn Minh Phong

Viện nghiên cứu phát triển KT-XH Hà Nội

Nguyễn Trần Minh Trí

Đại học KTQD-Hà Nội

 

 



Ý kiến của bạn