Nông dân sáng chế theo “đơn đặt hàng của cuộc sống” (kỳ 2)

Chuyển động Sắc màu cuộc sống
Thứ hai, 09/5/2011 9:17 GMT+7
Làm ra một chiếc máy băm bèo hay máy rửa bát đã khó, nhưng nhân chúng lên thành sản phẩm hàng hóa và tìm thị trường tiêu thụ còn khó hơn.

Nông dân đơn độc?

Mọi việc không đơn giản như nhiều người vẫn nghĩ. Vấn đề trước hết là làm thế nào để thông tin về sản phẩm đến với người tiêu dùng chứ chưa nói đến chuyện thuyết phục họ mua và sử dụng. Rồi thiếu mặt bằng, thiếu vốn, đội ngũ thợ không chuyên nghiệp, không am hiểu kỹ thuật… Các “nhà sáng chế chân đất” gặp khó ở cả đầu vào lẫn đầu ra.

Ông Nguyễn Như Nghi - Phó Giám đốc sản xuất của Công ty Thiên Thuận, giãi bày: “Về mặt nhân công thì có những cái rất khó khăn. Nông dân rất đông nhưng trình độ thì không có, nhân lực rất sẵn nhưng khó khăn cho doanh nghiệp là phải đào tạo thì người ta mới làm được. Cái ngành này đòi hỏi phải có kinh nghiệm mà kinh nghiệm thì phải mất thời gian. Phần nửa là người nông dân đến đây mình phải dạy. Phần nửa là con em nông dân đi học nghề tìm việc khó khăn ở nơi khác lại về đây. Thực ra, rất khó khăn đối với doanh nghiệp nhỏ ở nông thôn này. Một là giao thông không thuận lợi, điều kiện xã hội và cả nguồn lực nữa. Trong thiết kế và sản xuất thì dịch vụ hỗ trợ không có. Vốn cũng không có vì ông chủ ở đây xuất phát từ nông dân nên không có vốn. Vay mượn thì ở nông thôn khó, tài sản thế chấp không đáng là bao. Sự hỗ trợ của Nhà nước là phần nhỏ thôi”.

Tiến sĩ Nguyễn Văn Khải - “nhà nông dân học”, có quan điểm rất rạch ròi về sản phẩm “tự chế” của nông dân: “Phải dạy nghề nghiệp và từ những kiến thức cơ bản ấy mới có những người nghiên cứu, bấy giờ mới phát triển lên. Chúng ta rất hoan nghênh bà con đã làm ra máy tuốt lúa, máy tách ngô, bóc hành, cắt quýt v.v... Cái đó rất tốt. Nhưng tất cả máy móc này chưa đưa vào đại trà, chưa thành sản phẩm công nghiệp vì còn thiếu những kiến thức về khoa học. Cho nên những cái máy đó chỉ ứng dụng được ở trình độ thủ công, chưa thể phổ biến được. Muốn vượt qua cái đó thì phải có cơ quan nghiên cứu, đầu tư. Thế thì cơ quan nghiên cứu người ta nghiên cứu cái gì?”.

Nông dân tự nghĩ và tự làm ra được các máy móc nông cụ là hiện tượng đáng mừng nếu nhìn từ góc độ tiềm lực sáng tạo ẩn chứa trong dân chúng. Nhưng mặt khác điều này cũng gợi nhiều suy nghĩ về vai trò của các nhà sáng chế chuyên nghiệp, của các cơ sở sản xuất máy nông cụ chuyên nghiệp. Đâu là sự gắn kết giữa khoa học – công nghiệp – nông nghiệp?

Về vấn đề nêu trên, ông Nguyễn Như Nghi, cho biết: “Những nhà khoa học thì làm ở tầm vĩ mô, máy móc rất lớn, mà nông dân cần những thứ phục vụ ngay cho sản xuất và cuộc sống hàng ngày. Cho nên người làm khoa học và người nông dân phải một quãng thời gian nữa mới gặp nhau được. Còn khi các nhà khoa học lớn và nông dân chưa gặp nhau thì chúng tôi làm công việc nối tiếp. Hiện nay sự hỗ trợ về khoa học – kỹ thuật, dịch vụ hỗ trợ đối với doanh nghiệp nông thôn rất khó, hầu như là không. Còn các cấp xã, huyện, tỉnh thì rất quan tâm nhưng là quan tâm về chính sách, còn những khó khăn thực, ví dụ như nghiên cứu, rồi vốn thì rất khó khăn. Mình phải tự lo là chủ yếu”.

Phó Giáo sư, Anh hùng Lao động Trần Tuần Thanh nhấn mạnh: “Thế nào thì vấn đề con người cũng là quan trọng. Nhiệt tình của từng người, quan điểm của từng người, cái tâm của từng người. Nhưng thực chất ở đây là vấn đề thuộc về chính sách, sách lược có tính chất vĩ mô. Mười mấy năm nay nền công nghiệp vừa và nhỏ của chúng ta đã không làm hết chức năng của mình để góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.

Trần Quang Vinh


Ý kiến của bạn