Quan họ Bắc Ninh: “Để thương, để nhớ ...để say”

Văn hóa thể thao Thể thao
Chủ nhật, 22/1/2012 13:54 GMT+7
Quan họ Bắc Ninh là một môn nghệ thuật dân ca rất phổ biến tại Việt Nam. Năm 2009, Quan họ cổ truyền xứ Kinh Bắc đã được UNESCO chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Thìn 2012, hai đoàn dân ca Quan họ Bắc Ninh và Bắc Giang sẽ tới Paris, biểu diễn tại trụ sở UNESCO  và Trung tâm văn hóa Việt Nam tại Pháp trong hai ngày 21 và 22/1/2012.

Tạp chí Cộng đồng RFI tuần này đưa đến với quý thính giả một số ý kiến và tâm tình của các chuyên gia và nghệ sĩ. Tham gia đàm đạo có Giáo sư âm nhạc dân tộc học Trần Quang Hải (Paris), nghệ sĩ Nguyễn Quý Tráng, phụ trách nhà hát Quan họ Bắc Ninh và nghệ nhân Nguyễn Thị Thềm.

Chơi Quan họ: Nhìn nhau mà hát

Theo Giáo sư Trần Quang Hải, có ba loại Quan họ. Quan họ làng (hay Quan họ chay) là hát mà không có đệm. Quan họ đoàn là do những người chuyên nghiệp ở trong 49 làng ở xứ Kinh Bắc biểu diễn và Quan họ đài của những người ở ngoài xứ Kinh Bắc và được huấn luyện tại các nhạc viện.

Lần đầu tiên bên Việt Nam, Viện Văn hóa Nghệ thuật đưa sang Pháp những người hát Quan họ làng để cho thấy cội nguồn Quan họ.

Quan họ truyền thống là hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian của xứ Kinh Bắc, với những quy định rất nghiêm túc, khắt khe, đòi hỏi những người hát như liền anh, liền chị phải am tường các tiêu chuẩn, tuân theo luật lệ. Điều này người ta gọi là thú chơi, chơi Quan họ, chứ không phải là hát Quan họ. Chơi Quan họ chủ yếu là hát đôi giữa liền anh, liền chị vào dịp lễ hội xuân thu nhị kỳ ở các làng quê. Trong Quan họ truyền thống, đôi liền anh, liền chị họ phải nhìn nhau mà hát. Còn trong khi đó, những người hát trên sân khấu là họ nhìn khán giả để hát.

Khi hát, bên liền chị hát trước, hát mời, rồi người bên liền anh phải hát đối lại, theo giọng lề lối. Còn về phần giọng vặt, thì nó có cái khác là hát vừa đối lời, vừa đối luôn cả giai điệu, rồi bên đối lại phải sáng tác một điệu khác, nếu bên kia đối không được là bên kia thua. Từ đó mới sáng tạo ra rất nhiều giai điệu Quan họ. Giai đoạn thứ hai (giọng vặt) là để tạo cho những người nghệ nhân Quan họ có dịp sáng tác: sáng tác tại chỗ, sáng tác tại nhà để đưa ra trong các dịp hát đối, nếu phía bên kia không đối được, thì bị thua.

Lúc đầu, Quan họ cổ truyền có rất ít bài. Mỗi lần gặp nhau,  tạo ra thêm một số bài mới. Qua năm tháng, số bài càng ngày càng tăng. Quan họ hiện có gần 300 bài, chứng tỏ rằng Quan họ có rất nhiều sáng tác và tạo cho Quan họ một chỗ đứng biệt lập trong kho tàng dân ca Việt Nam.

Hát để thương, để nhớ, để say...



Nghệ nhân Nguyễn Thị Thềm cho biết Quan họ rất là riêng, mộc mạc, chân tình, nhưng càng nghe thì càng ngấm, càng ngấm và càng say. Ví dụ như hát Quan họ truyền thống chỉ là hát canh đối đáp, ngồi chiếu, bên nữ đối ra, bên nam đối lại. Càng nghe về khuya, mới càng ngấm.

Quan họ không phải là chỉ là hát đơn thuần. Đi liền với nghệ thuật hát là cả một nghệ thuật sống, đặc biệt là trong tình cảm giữa nam và nữ. Một tình yêu lý tưởng, không chuyển thành hôn nhân, nhưng vẫn có thể đâm hoa, kết trái. Nghệ nhân Nguyễn Thị Thềm cho biết: “Thật ra Quan họ thì người học cũng hát được và cũng gọi là dễ. Nhưng về cái lối chơi Quan họ thì mới là khó. Chơi làm sao, người Quan họ gọi ‘giấy rách thì giữ lấy lề’, phải lịch sự, phải khiêm nhường. Ví dụ như  nói chuyện với anh hai, với chị hai, thì bao giờ cũng phải ‘năm thưa, mười gửi’: ‘Em xin đỡ nhờ anh hai, anh ba …’, kể cả nữ, bên chị hai, nhiều tuổi hơn các anh hai, nhưng vẫn xưng em, và cũng năm thưa mười gửi ... Quan họ hát thì không bao giờ nam và nữ được đứng gần nhau. Ngày xưa, đi hát, nam ngồi một bên gian nhà bên này, nữ ngồi một bên gian nhà bên kia. Đèn dầu ở gian giữa, tối không nhìn thấy mặt nhau, nhưng mà say nhau về lời ca tiếng hát. Và có khi rất là lưu luyến nhớ nhung, nhưng liền anh. liền chị lại không lấy được nhau”.

“Bên nam và bên nữ hát một canh với nhau. Nam một bên, nữ một bên. Có thể có chị hai bên này có cảm tình với anh hai bên kia, nhưng ở đây chỉ là lưu luyến nhớ nhung nhau trong những câu hát thôi. Có khi hát thâu đêm, suốt sáng, quên cả thời gian... Say câu hát, cũng không phải chỉ là say câu hát thôi, mà cũng có thể là say tình. Say vì anh kia hát hay, anh kia nhiều câu, nhiều vốn liếng. Nhưng vì Quan họ đã có lời nguyền đã ‘kết chạ’ với nhau, coi nhau như anh em một nhà. Quan họ có lời thề độc, nếu lấy nhau, thì sẽ không được sống trọn đời, trọn kiếp với nhau. Có khi yêu vụng, nhớ thầm đấy, về nhà đêm ngủ là cũng bâng khuâng, lưu luyến đấy, nhưng mà chỉ là mong sao là hẹn đến ngày mai, hoặc ngày kia, đến ngày hội để mình được gặp nhau, để mình lại được hát, để được nghe anh ba, anh hai hát, để lại đối đáp với nhau. Thắm thiết, nhưng mà chỉ qua lời ca tiếng hát”.

Trở lại những tương giao giữa các liền anh, liền chị, theo nghệ sĩ Nguyễn Quý Tráng, chính cái tình cảm tha thiết giữa người nam và người nữ không kết thúc bằng hôn nhân, có thể là cơ sở cho sự nảy nở một tình yêu trọn vẹn trong nghệ thuật.

Nghệ sĩ Nguyễn Quý Tráng cho biết: “Trước đây, theo quy định của Quan họ mà các cụ đặt ra, Quan họ làng A không lấy Quan họ làng B... Tôi nghĩ rằng cũng vì cái cấm đoán ấy mà lời ca của Quan họ rất nhanh nhậy. Nếu không có sự cấm đoán, thì tình yêu chưa chắc đã đẹp đến thế”.

Minh Châu (theo RFI)


Ý kiến của bạn