Bức tranh toàn cảnh về Vệ sinh & An toàn thực phẩm ở Việt Nam

Các chuyên mục cũ Tiêu điểm
Thứ hai, 16/5/2011 17:14 GMT+7
Phỏng vấn ông Nguyễn Bá Dũng. Ảnh: Châu Bội
Mặc dù Việt Nam đã có tới quá trình 20 năm thực hiện những quy định về vệ sinh và an toàn thực phẩm (VS&ATTP) nhưng đến nay bức tranh này vẫn chưa được định hình rõ nét, hai mảng sáng tối (tốt – xấu) đang bị loang vào nhau và dường như mảng tối chiếm tỷ lệ nhiều hơn.


Có thể đánh giá bức tranh này dựa trên các tiêu chí: hệ thống pháp lý, nhận thức và tình hình sản xuất lương thực, thực phẩm của Việt Nam.

Đánh giá về khía cạnh pháp lý: phát biểu tại hội thảo công bố khởi động dự án S.A.F.E, dự án VS&ATTP cho ngành nông sản & thực phẩm chế biến từ sữa” ngày 10/05, ông Nguyễn Xuân Mai, đại diện của Viện Y tế cộng đồng cho biết rằng chỉ từ năm 1999, VS&ATTP ở Việt Nam mới được hình thành về mặt pháp lý. Tuy nhiên, vấn đề đáng nói là trong khi ở các nước khác, luật ban hành ra được phổ biến rộng rãi tới mọi người dân thì ở Việt Nam, các điều luật chỉ “chạy loanh quanh” trong các cơ quan nhà nước…! Các cán bộ coi những tài liệu này như là một thứ tài sản quý giá, khư khư cất giữ trong tủ vì sợ rằng chia sẻ ra thì mình sẽ bị mất mát cái gì to tát lắm!

Điều này tệ hơn nữa dẫn đến tình trạng ngay đến những người lãnh đạo, quản lý không nắm vững các quy định về luật VS&ATTP chứ chưa nói gì đến những người dân…

Mặc dù, hiện nay tình trạng này đã được cải thiện đáng kể do sự phát triển của ngành công nghệ thông tin, nhưng rõ ràng, Việt Nam đã để lãng phí một thời gian khá dài để có thể tiếp cận được những hệ thống quản lý VS & ATTP đạt tiêu chuẩn quốc tế, để đến hôm nay phải gánh chịu hậu quả tụt hậu, kém phát triển hơn so với thế giới.

Thứ hai, đánh giá nhận thức của người Việt Nam về VS&ATTP. Ông Mai nói: nhận thức về VS&ATTP của người dân Việt Nam có sự chênh lệch nhau rất lớn giữa các đối tượng. Nhưng một thực trạng đáng buồn ở nước ta là người nuôi heo không dám ăn thịt heo; người nuôi gà vịt không dám ăn thịt gà, thịt vịt; nuôi cá không ăn cá… Một phần do nghèo, người dân phải bán sản phẩm để có tiền chi tiêu nhưng một lí do quan trọng nữa là cũng do đói và nghèo nên ít ai để ý, quan tâm đến VS&ATTP nên đã không dám sử dụng ngay cả sản phẩm mình tạo ra.

Theo thống kê, Việt Nam là nước dùng phân bón, thuốc trừ sâu, chất phụ gia "vô tội vạ” nhất trên thế giới. Riêng chỉ ngành trồng trọt, theo thống kê mỗi năm đã có tới 35.000 đến 50.000 tấn phân bón, thuốc trừ sâu và thuốc tiêu diệt sâu bệnh, côn trùng được rải, phun trên các cánh đồng Việt Nam.

Phỏng vấn ông Nguyễn Bá Dũng, chuyên gia tư vấn của tổ chức ASSIST, đơn vị sẽ thực hiện triển khai dự án S.A.F.E, ông Dũng nói: Một phần do nhận thức thấp và một phần do kỷ luật không nghiêm ngặt nên nhiều doanh nghiệp Việt Nam không ý thức thực hiện VS&ATTP, chỉ khi nào có chỉ thị bắt buộc mới thực hiện. Và đó là lí do tại sao các doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam rất khó tiếp cận với thị trường châu Âu, thị trường luôn đề cao chất lượng VS&ATTP của sản phẩm.

Thứ ba, xem xét về tình hình sản xuất thực tế của ngành lương thực, thực phẩm Việt Nam. Việt Nam được biết đến trên thị trường thế giới là nước sản xuất và xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản và lương thực, thực phẩm như chè, cà phê, hải sản, lúa gạo v.v…

Bước vào thế giới hội nhập, nhiều doanh nghiệp chỉ vì lợi nhuận đã tìm mọi cách để được xuất khẩu hàng hóa vào các thị trường tiềm năng trên thế giới. Các chuyên gia đánh giá nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã thiếu hiểu biết nhưng lại hay làm liều, làm sai quy định về tiêu chuẩn VS&ATTP của rất nhiều nước. Ví dụ như, có những doanh nghiệp thủy sản Việt Nam bơm Agar vào tôm để bán; trộn đinh, cắm đinh vào tôm để xuất khẩu; cho sỏi đá vào cà phê cho nặng kí; hàng hết hạn sử dụng, tháo nhãn cũ dán nhãn mới và tiếp tục bán cho người tiêu dùng v.v…

“Đối với thế giới, người ta ý thức VS&ATTP không chỉ có ăn, uống mà phải thực hiện ngay tất cả đối với các chợ, tức là phải đảm bảo VS&ATTP trong tất cả các khâu sản xuất và thu hoạch, chế biến, bao bì và đóng gói, bảo quản và vận chuyển…”, theo ý kiến của Ts.Luật Phạm Văn Chắt- giảng viên cao cấp, báo cáo viên Bộ Công thương về hội nhập kinh tế quốc tế.

Các chuyên gia cũng nói một phần nguyên nhân đến từ khách quan, do Việt Nam là nước có khí hậu cận nhiệt đới, nóng ấm cho nên vi nấm, vi khuẩn, vi rút phát triển “rầm rộ”, nhưng chủ yếu vẫn do trình độ nhận thức yếu kém nên hệ thống quản lý chất lượng, đảm bảo VS&ATTP trong các doanh nghiệp Việt cực kỳ kém hiệu quả.

Các chuyên gia gửi thông điệp đến với các doanh nghiệp: Trên thế giới có nhiều hệ thống quản lý VS&ATTP khác nhau. Phụ thuộc vào vị trí của tổ chức nằm trong chuỗi sản phẩm nào, ví dụ như cơ sở trang trại chăn nuôi thuộc chuỗi thực phẩm trang trại chăn nuôi, cơ sở trồng trọt có chuỗi sản phẩm của trồng trọt, nuôi trồng thủy sản có chuỗi sản phẩm nuôi trồng thủy sản v.v…, chủ doanh nghiệp lựa chọn hệ thống quản lý phù hợp. Quan trọng nhất là lãnh đạo phải nhận thức được tầm quan trọng của việc đảm bảo VS&ATTP thì mới mong cải thiện được chất lượng và giá trị sản phẩm của doanh nghiệp.

Và giải bài toán VS&ATTP là một quá trình lâu dài, đòi hỏi sự hợp tác của toàn dân, toàn doanh nghiệp và các cơ quan có chức năng.

Từ ngày 1/7/2011, Luật An toàn thực phẩm sẽ có hiệu lực ở Việt Nam. Hy vọng bài toán này sẽ được giải quyết thấu đáo hơn.



“Dự án S.A.F.E, dự án VS&ATTP cho ngành nông sản & thực phẩm chế biến từ sữa” được tổ chức ASSIST, một tổ chức phi chính phủ có trụ sở đặt tại Philippin chính thức triển khai ở Việt Nam bắt đầu từ tháng 5/2011. Hội thảo về dự án S.A.F.E được tổ chức ở TP.HCM vào ngày 10/5 và 24/05; Đắk Lắk: 17/05 và Cần Thơ: 20/05 do Tập đoàn TÜV Rheinland Việt Nam phối hợp cùng DEG (thành viên của Tập đoàn Ngân hàng Tái thiết, CHLB Đức) thực hiện.



Châu Bội
 


Ý kiến của bạn