Quốc tế Phân tích
Thứ tư, 15/2/2012 11:41 GMT+7

Mỹ suy ngẫm lại: Cơ quan tình báo (Kỳ 1)

Bản in ấn Email
Cỡ chữ
Ý kiến bình luận (0)
(Tamnhin.net) - 2 tuần trước chúng tôi đã đăng tải bài báo với tiêu đề "10 thất bại đau đớn của tình báo Mỹ". Nhưng liệu rằng tất cả những thất bại đó có phải là do tin tức tình báo không chính xác hay là do nguyên nhân nào khác? Hãy nghe Paul R. Pillar, một người trong cuộc, trần tình về vấn đề này trong bài báo Rethinking: Intelligence mà tác giả viết cho trang web Foreign Policy và được chúng tôi phỏng dịch dưới đây.

Tôi làm việc cho CIA đã được 28 năm và tôi có thể nói với bạn rằng: Nhiều chuyện tệ hại của quân đội Mỹ xuất phát từ những nhà lãnh đạo tồi chứ không phải những điệp viên tệ hại.


“Các tổng thống đưa ra các quyết định dựa vào tin tức tình báo”


Không phải là các quyết định lớn. Từ việc George W. Bush công bố những bản báo cáo về vũ khí hủy diệt hàng loạt ở Iraq đến những tuyên bố năm nay của những ứng cử viên Tổng thống đảng Cộng hòa về việc thiết lập chính sách tại Afghanistan dựa trên những kêu gọi của cộng đồng tình báo. Người Mỹ thường có niềm tin rằng các nhà lãnh đạo của họ được chỉ dẫn đắc lực từ đội ngũ điệp viên thông hiểu mọi thứ. Cuối cùng, nước Mỹ đã tiêu tốn khoảng 80 tỷ USD mỗi năm cho nghiệp vụ tình báo, nơi cung cấp một loạt những chỉ dẫn quan trọng hàng tuần về các vấn đề từ việc săn lùng những kẻ khủng bố tới việc chống lại những khả năng quân sự đang phát triển tại Trung Quốc. Sự phân tích này sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra những quyết định thường ngày và thỉnh thoảng giúp họ tiến gần hơn tới các vấn đề phức tạp hơn bình thường như mối đe dọa đang tăng lên từ al Qaeda vào cuối những năm 90.

Tuy nhiên, dựa trên những quyết định về những chính sách đối ngoại, dù có xảy ra chiến tranh hay xem xét lại một cách tổng thể những chiến lược của Mỹ trong thế giới Ả Rập (như những gì Tổng thống Barack Obama đang làm hiện nay), thì có thể nói rằng tin tức tình báo không phải là nhân tố quyết định. Những ảnh hưởng thực sự quan trọng là những thứ sau đây đã được các nhà lãnh đạo áp dụng vào trong thực tiễn. Đó là khả năng phán đoán chiến lược của các nhà lãnh đạo, những bài học mà họ rút ra được từ lịch sử hoặc từ kinh nghiệm cá nhân, những mệnh lệnh chính trị trong nước và chứng loạn thần kinh chức năng của họ.

Bên cạnh đó, một người không nên đánh giá thấp ảnh hưởng của những hiểu biết thông thường. Tổng thống Lyndon B. Johnson và những người thân cận của ông đã nhận được những báo cáo đánh giá ảm đảm của Cộng đồng tình báo Mỹ về khả năng tự lập của miền Nam Việt Nam, cũng như những bản báo cáo bi quan từ các nhà lãnh đạo quân sự Mỹ về chi phí và thời gian cam kết để quân đội Mỹ ở đó. Nhưng họ đã thất bại với lý thuyết Domino của mình – lý thuyết cho rằng nếu miền Nam Việt Nam rơi vào vòng vây của chủ nghĩa cộng sản sẽ kéo theo sự sụp đổ liên tiếp của một loạt các nước trong thế giới đang phát triển. Tổng thống Harry Truman đã quyết định can thiệp vào Hàn Quốc dựa trên một bài học trong quá khứ: Sự thất bại của quân Đồng Minh đã dũng cảm đương đầu với các cường quốc phe khối liên minh trước Chiến tranh Thế giới thứ II và sự thành công sau chiến tranh ở phương Tây nhằm phản ứng quyết liệt chống lại sự xâm nhập của chế độ cộng sản vào Hy Lạp và Berlin. Chính quyền của ông Obama gần đây quan tâm đến vấn đề Iran phần lớn là trách nhiệm của nền chính trị trong nước. Những lời khuyên từ phía Langley có thể tốt hơn hoặc tồi tệ hơn, tuy nhiên lại thể hiện rất ít đối với điều này.
“Những tin tức tính báo xấu đã dẫn tới cuộc chiến tranh Iraq”

Không đúng. Sự lãnh đạo tồi đã dẫn đến cuộc chiến tranh Iraq. Những tin tức tình báo có thể là tin tức nổi bật đối với việc xâm lược Iraq của Tổng thống Bush, nhưng những tin tình báo này hầu như không đóng vai trò gì trong quyết định xảy ra chiến tranh. Nếu những đánh giá của Cộng đồng tình báo Mỹ chỉ ra được quá trình diễn biến hành động thì đã có thể tránh được một cuộc chiến tranh, chứ không phải là phát động cuộc chiến tranh.

Khi Ngoại trưởng Mỹ Colin Powel đứng trước Liên Hợp Quốc vào tháng 2/2003 để nói về việc thực hiện một cuộc xâm lược Iraq, ông đã lập luận rằng “Saddam Hussein và chế độ của ông ta đang che giấu những nỗ lực sản xuất vũ khí hủy diệt hàng loạt”, và sư giám sát mà ông đưa ra là “dựa trên tin tức tình báo vững chăc”. Tuy nhiên, trong một cuộc phỏng vấn 4 tháng sau đó, Phó Bộ trưởng Quốc Phòng Paul Wolfowitz đã thừa nhận rằng những vụ khí hủy diệt hàng loạt chỉ đơn giản là “một vấn đề mà tất cả mọi người có thể đồng ý”. Cộng đồng tình báo đã không đưa ra cảnh báo gì về vấn đề này khi ông Bush lên nắm chính quyền. Sự thật là báo cáo toàn diện năm 2001 của cộng đồng tình báo về các mối đe dọa trên toàn cầu thậm chí còn không đề cập tới vũ khí hạt nhân của Iraq hay bất cứ vũ khí sinh học hay hóa học nào. Chính phủ đã không yêu cầu (hoàn toàn sai lầm) bản báo cáo ước tính tháng 10/2002 về những chương trình vũ khí không bình thường của Iraq mà lại tập trung vào khả năng chính thức xâm lược Iraq. Bush, Condoleezza và cả cố vấn an ninh quốc gia đều không đọc toàn bộ bản báo cáo dự tính và trong bất cứ trường hợp nào vẫn triển khai cuộc chiến tranh trước khi văn bản được soạn thảo.

Nếu Bush đã đọc bản báo cáo của Cộng đồng tình báo Mỹ, ông ta sẽ nhận ra việc chính quyền của mình xâm lược Iraq là điều vô lý. Các quan chức tình báo đã kết luận rằng ông Saddam không sử dụng bất cứ loại vũ khí hủy diệt hàng loạt nào để chống lại Mỹ hay khủng bố Mỹ, trừ phi Mỹ xâm lược Iraq và cố gắng lật đổ chế độ của ông ta. Cộng đồng tình báo không tin rằng chính quyền Iraq là đồng minh của al Qaeda như tuyên bố của Tổng thống và cơ quan tình báo đã dự đoán chính xác những nỗ lực thiết lập nền dân chủ ở Iraq thời hậu Saddam sẽ rất khó khăn, hỗn độn và vất vả.

Trong một bản đánh giá trước chiến tranh, cộng đồng tình báo đã đánh giá rằng việc cố gắng xây dựng một hệ thống chính trị mới ở Iraq sẽ là thời kỳ “lâu dài, khó khăn và có thể hỗn loạn” và chính quyền hậu Saddam sẽ phải đối mặt với “một xã hội bị chia rẽ sâu sắc với khả năng các nhóm trong nước sẽ tham gia vào các cuộc xung đột bạo lực trừ khi có lực lượng chiếm đóng ngăn cản họ làm vậy”. Việc Iraq chào đón lính Mỹ như thế nào, bằng hoa hay bằng chiến tranh, hoàn toàn không được nhắc tới. Tuy nhiên, cũng chẳng có gì khác biệt đối với Nhà Trắng.


“Những thất bại của tin tức tình báo làm hỏng chính sách đối ngoại của Mỹ”


Điều này hầu như không xảy ra. Hồ sơ ghi lại những thất bại của tình báo Mỹ trong thế kỷ XX là một ví dụ và hầu như không thể chối cãi được. Nhưng liệu những thất bại hay thành công này có ý nghĩa quan trọng trong một bức tranh lớn liên quan đến vấn đề khác.

Cơ quan tình báo CIA đã dự đoán được việc bùng nổ và kết quả của cuộc chiến tranh 6 ngày năm 1967 diễn ra giữa Israel và các nước Ả Rập láng giềng – một tin tình báo đủ ấn tượng để tình báo trưởng Richard Helms giành được một chỗ ngồi tại bàn ăn trưa với Tổng thống Johnson vào thứ Ba. Tuy nhiên, những tin tức tình báo hàng đầu này cũng không thể giúp Tổng thống Johnson ngăn chặn được cuộc chiến tranh mà ngày nay vẫn còn tồn tại những xung đột giữa Israel và Palestin. Tình báo Mỹ cũng hoàn toàn thất bại trong việc dự đoán cuộc tấn công bất ngờ của Ai Cập vào Israel diễn ra vào 6 năm sau đó. Tuy nhiên, sự tấn công khó chịu bất ngờ của Ai Cập cũng không thể ngăn được Tổng thống Nixon và Ngoại trưởng Henry Kisinger đạt chiến thắng trong ngoại giao, khai thác cuộc xung đột để củng cố mối quan hệ với Israel đồng thời mở rộng với Ai Cập và các nước Ả Rập khác – tất cả bằng chi phí của Liên Xô.

Tình báo Mỹ cũng nổi tiếng với vụ không dự đoán trước được cuộc cách mạng Iran năm 1979. Nhưng đó là do sự thiếu chú ý của các nhà hoạch định chính sách đối với Iran và sự bất đồng sâu sắc trong chính quyền của Tổng thống Jimmy Carter chứ không phải do tin tức tình báo tệ hại. Thậm chí ngay cả sau vài tháng rối loạn ở các thành phố của Iran, chính quyền của ông Carter cũng không triệu tập bất kỳ một cuộc họp chính sách cấp cao nào về vấn đề Iran.

Sự phân tích tin tình báo không hoàn hảo về một biến động chính trị khác – sự sụp đổ của Liên bang Xô viết – cũng không là vấn đề gì nghiêm trọng. Những ảnh hưởng quan trọng về chính sách của Mỹ đối với Liên Xô trong những năm 80 chỉ là những hành động bản năng của Tổng thống Ronald Reagan. Từ những ngày đầu tiên trong nhiệm kỳ Tổng thống của mình, quan điểm rằng Liên Xô đã cam chịu thất bại đã trở thành một điều khoản về niềm tin của vị Tổng thống thứ 40 này. Sau đó ông đã viết rằng “Người Nga sẽ không bao giờ thắng được trong cuộc chạy đua vũ trang.”

Còn tiếp

Yến Anh (Theo Foreign policy)


Ý kiến của bạn
THẾ GIỚI & VIỆT NAM
Nghịch lý TPP của Tổng thống Obama (Tamnhin.net) – Thật ngược đời khi Tổng thống Mỹ Barack Obama đòi hỏi các nước khác thúc đẩy tự do thương mại, trong khi lại bênh vực cho việc áp dụng thuế quan để bảo vệ hàng dệt may trong nước.
PHÂN TÍCH
BoE: Khủng hoảng nợ công châu Âu tác động bất lợi tới đà hồi phục kinh tế Anh (Tamnhin.net) - Ngân hàng trung ương Anh (BoE) vừa hạ dự báo tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Vương quốc Anh trong năm nay, từ mức trên 1% đưa ra trước đó xuống dưới 1%, đồng thời cảnh báo rằng cuộc khủng hoảng nợ công tại Khu vực đồng euro (Eurozone) là "đòn giáng" mạnh nhất vào đà hồi phục của nền kinh tế này, cho dù chính sách của Anh đang đi đúng hướng.
BỐN PHƯƠNG
Tây Ban Nha lao đao vì nợ xấu và chi tiêu quá mức (Tamnhin.net) - Các nguồn tin từ Madrid cho hay, hai vấn đề lớn mà kinh tế Tây Ban Nha đang phải đối mặt là những khoản nợ xấu lên tới hàng tỷ euro của các ngân hàng và chi tiêu quá mức của chính quyền địa phương.
SỰ KIỆN HÔM NAY
Hội nghị thượng đỉnh G8: Ủng hộ Hy Lạp ở lại Eurozone, cam kết ngăn chặn khủng hoảng và thúc đẩy tăng trưởng (Tamnhin.net) - Ngày 19/5 tại Trại David thuộc bang Maryland (Mỹ), Hội nghị thượng đỉnh thường niên Nhóm 8 nước công nghiệp phát triển (G8) trong hai ngày đã khép lại với tuyên bố chung là giúp Hy Lạp vượt qua cuộc khủng hoảng nợ và tiếp tục ở lại Khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (Eurozone).