Giống lúa chịu lạnh và mô hình “con thuyền lớn”

Các chuyên mục cũ Tiêu điểm
Thứ tư, 03/8/2011 16:57 GMT+7
Khi gieo những hạt thóc giống xuống ruộng vào những ngày rét bất thường và kéo dài dịp Tết Tân Mão, những người nông dân ở các tỉnh miền Bắc nước ta cũng không dám kỳ vọng nhiều vào một vụ Chiêm bội thu. Nhưng kết quả trên thực tế đã vượt cả mong đợi.

Nơi sản sinh những giống lúa mới

Thông thường cây mạ mọc mầm và cây lúa sinh trưởng trong điều kiện lạnh giá thì sẽ cho năng suất thấp, bông nhỏ, nhiều hạt lép. Nhưng năm nay nhiều địa phương ở Bắc Bộ vẫn được mùa lúa, đặc biệt là các tỉnh Thái Bình, Ninh Bình, Hải Dương. Góp một phần đáng kể vào thắng lợi này là các giống lúa mới ngắn ngày, năng suất cao, kháng sâu bệnh và chịu lạnh tốt. Đó là các giống lúa QR1, QR2, J01, J02, DS1…

“Cha đẻ” của các giống lúa mới ngắn ngày, chống chọi dẻo dai với những biến động thất thường của thời tiết, là Giáo sư, Tiến sĩ Đỗ Năng Vịnh, Phó Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp.

Là “bạn của nhà nông”, vị giáo sư tóc bạc phơ này không giam mình trong phòng thí nghiệm mà thường xuyên lăn lộn ngoài ruộng đồng: chân lội bùn, đầu đội nắng như một lão nông thực thụ. Còn nơi sản sinh ra nhiều giống lúa mới đáp ứng mong đợi của nông dân Đồng bằng Sông Hồng và có khả năng thích nghi với điều kiện biến đổi khí hậu toàn cầu ở miền Bắc nước ta là Viện Di truyền Nông nghiệp thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Tại Phòng Thí nghiệm trọng điểm quốc gia về công nghệ tế bào thực vật, các giống lúa mới ra đời sau một quá trình nghiên cứu thầm lặng, lâu dài và rất vất vả. Được tách mô, cấy ghép thành công, những hạt giống được nuôi bằng dung dịch bổ dưỡng trong những chiếc lọ thủy tinh. Khi những cây lúa phát triển ở một mức độ nhất định trong ống nghiệm thì chúng được đưa ra trồng trong các ô đất ở Trung tâm Thực nghiệm Sinh học Nông nghiệp Công nghệ cao đóng ở huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên. Trung tâm này này có nhiệm vụ thẩm định, nghiệm thu các đề tài, dự án nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi bằng công nghệ cao.


Giống lúa chịu lạnh đang được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm.

Trước khi được đưa ra đồng ruộng, các giống lúa mới phải qua thời gian thử thách tại Trung tâm Khảo nghiệm giống cây trồng Hải Dương hoặc Trạm khảo, kiểm nghiệm giống cây trồng, phân bón Văn Lâm (Hưng Yên).  Các đơn vị đó được giao chức năng khảo nghiệm tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định; khảo nghiệm giá trị canh tác và giá trị sử dụng các giống cây trồng mới; kiểm định, kiểm nghiệm và hậu kiểm chất lượng giống cây trồng... Chỉ khi nào có các kết quả tích cực một cách khách quan thì Viện Di truyền Nông nghiệp mới được phép đưa các giống lúa mới ra đồng ruộng.

Cầu nối giữa các nhà nghiên cứu và người nông dân là những trung tâm ứng dụng sản xuất và kinh doanh giống cây trồng ở địa phương.

Ông Nguyễn Quang Đôn, Giám đốc Công ty Cổ phần Đầu tư phát triển Công nghệ Nông nghiệp Thái Bình, cho biết: “Từ năm 2009 đến nay Công ty đã liên kết với Viện Di truyền tiến hành đưa ra khảo nghiệm nhiều loại giống có triển vọng và đã đưa vào sản xuất và vào cơ cấu của tỉnh nhà, ví dụ QR1 đã được bà con chấp thuận. Giống lúa năng suất cao và chống chịu sâu bệnh, chất lượng gạo ngon. Giống QR2, J01, J02  tiếp tục đưa khảo nghiệm và phối hợp với Viện mở rộng diện tích cho vụ tới.

Mỗi năm Thái Bình nhập rất nhều giống lai của Trung Quốc nhưng bây giờ  tự hào sản xuất được giống lúa tại quê hương mình để bà con không phải chịu cái giá cả cao mà năng suất, chất lượng không hơn được với lúa của mình sản xuất ra”.


Theo chân Giáo sư Đỗ Năng Vịnh, các phóng viên đã về thăm “quê lúa” Thái Bình trước khi vào vụ gặt, đâu đâu chúng tôi cũng thấy những thảm lúa đẹp còn hơn cả trong tranh.

Theo đánh giá của những người nông dân Thái Bình, giống QR1, J01, J02 do Viện Di truyền Nông nghiệp tạo ra rất hợp với thổ nhưỡng địa phương và cho năng suất cao. Mặt khác, giống QR1, J02 có ưu điểm vượt trội so với các giống khác hiện nay là kháng chịu được sâu bệnh và đặc biệt chịu được rét dài ngày. Cụ thể như vụ Xuân 2011 thời tiết lạnh giá nhưng giống lúa QR1 vẫn sinh trưởng, phát triển rất tốt và năng suất tối thiểu ước đạt 2,1 – 2,2 tạ/sào, cá biệt có hộ 2,4 – 2,5 tạ/sào.

Ông Đỗ Tiến Chút, Chủ nhiệm HTX dịch vụ nông nghiệp xã Đông Long, Tiền Hải, hồ hởi trao đổi với các phóng viên: “Giống J02 được đưa vào xã chúng tôi bắt đầu từ vụ Xuân 2011 trên 6,5 ha. Giống lúa này được Viện DT chuyển qua Phòng NN và PTNT huyện, đưa xuống HTX chúng tôi cấy có tính chất khảo nghiệm. J02 có đặc điểm phù hợp với đồng đất của chúng tôi, thứ hai là nó chịu được thời tiết khắc nghiệt, ví dụ như mùa Xuân 2011, cái vụ Xuân có thể nói các giống lúa khác rất khó chịu đựng. Nhưng trong suốt quá trình theo dõi J02 chịu đựng được với thời tiết rét, khắc nghiệt. Năng suất theo chúng tôi đánh giá thì so với các giống lúa khác cũng không bị ảnh hưởng”.

Mô hình “con thuyền lớn”


Để các giống lúa mới đến được với bà con nông dân một cách nhanh chóng và trên quy mô rộng rãi thì điều cần thiết là phải có sự liên kết chặt chẽ giữa các nhà khoa học, chính quyền địa phương, doanh nghiệp và bà con nông dân. Giáo sư Đỗ Năng Vịnh rất tâm đắc với mô hình sản xuất giống đại quy mô mà ông gọi là “con thuyền lớn” ở huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Hàng trăm hộ dân đã đồng tình góp những mảnh ruộng bé bằng “manh chiếu” lại để Công ty Vật tư nông nghiệp Hồng Quang đã đứng ra tổ chức sản xuất, gieo cấy thống nhất những giống lúa chất lượng cao, thời gian sinh trưởng ngắn, chống chịu được lạnh.

Giáo sư Vịnh cho biết: “Đây là mô hình sản xuất lớn quy mô công nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp. Đây là mô hình chúng tôi rất ấn tượng. Tại vì ở đây trên mô hình này người ta chỉ trồng 1 giống trên diện tích khoảng 200 ha và với quy mô này, tất cả các gia đình nông dân đều theo một quy trình kỹ thuật đều trồng một loại giống và sản xuất ra một loại hàng hóa là giống chất lượng cao, chín sớm. Mô hình này cho phép chúng ta sản xuất ra khoảng 1.000 tấn thóc giống có chất lượng cao.

Đây là giống ngắn ngày, do vậy mà với sản lượng này thì giống sản xuất ra chúng ta có thể phủ trên diện tích 3 vạn ha lúa. Cho nên khi có một mô hình sản xuất giống thì sự lan tỏa của tiến bộ khoa học kỹ thuật rất lớn. Mô hình này hoàn toàn đối lập với mô hình sản xuất khác mà tôi tạm gọi là “mô hình nông nghiệp kiểu manh chiếu” hay là “mô hình nông nghiệp chiếu manh”.

Ở mô hình nông nghiệp đó thì người nông dân vãi thóc của mình trên mảnh đất nhỏ giống như vãi trên mảnh chiếu và mỗi mảnh ấy là một giống, mỗi mảnh đấy là một kiểu canh tác, mỗi mảnh đấy là một thứ sản phẩm rất là manh mún. Ở cái mô hình ấy là không thích hợp nữa đối với sản xuất lớn và không thích hợp với không khí hòa nhập hiện nay cũng như không thích hợp với chủ trương của Nhà nước về phát triển nông nghiệp, công nghiệp hóa”.

Theo Giáo sư Vịnh, trong mô hình “con thuyền lớn” vai trò của doanh nghiệp rất quan trọng, giống như người cầm cờ đứng mũi thuyền. Người ấy phải chịu sóng gió của nền kinh tế, phải chịu sóng gió của hậu quả, đằng sau cái người doanh nghiệp đó là Nhà nước và chính quyền -người cầm lái. Người cầm lái rất quan trọng vì là người đưa ra chính sách, cơ chế bảo hiểm để bảo đảm cho người nông dân và bảo đảm cho doanh nghiệp khi đi vào sản xuất lớn. Bên cạnh chính quyền, bên cạnh nhà doanh nghiệp thì vai trò rất quan trọng của người nông dân. Ở đây người nông dân chính là động cơ của con thuyền đó, chính là nước đỡ con thuyền đó để tiến lên.

Bên cạnh người nông dân là nhà khoa học. Nhà khoa học sẽ đứng ở mạn thuyền và có vai trò chịu trách nhiệm cố vấn cho cả ba – doanh nghiệp, nhà nước và nông dân, để tham gia quá trình sản xuất.

Việc liên kết giữa “bốn nhà” trong việc đưa giống lúa mới vào thực tiễn không chỉ có lợi cho người nông dân mà còn có lợi cho chính các nhà khoa học. Khi các kết quả nghiên cứu khoa học đến được tay doanh nghiệp, được Nhà nước và nông dân ủng hộ thì các nhà khoa học không còn phải lo lắng cho số phận những “đứa con” của mình nữa. Họ có thể yên tâm với việc nghiên cứu tìm ra những giống lúa mới hơn nữa.

GS.TS Đỗ Năng Vịnh khẳng định: “Đây là một mô hình tôi cho rằng có sự tham gia của doanh nghiệp và của địa phương, tạo ra một cơ chế thúc đẩy đối với phát triển khoa học mà trong đó nhà khoa học là được giải phóng ra khỏi những công việc có tính chất triển khai. Nhà khoa học chúng tôi rất yên tâm, rất là tự hào, rất là yên tâm để quay về với phòng thí nghiệm của mình…”

Chủ tịch UBND huyện Yên Khánh Phạm Quang Ngọc cũng có ý kiến tương tự: “Huyện Yên Khánh đã tìm ra và xây dựng mô hình sản xuất giống lúa chất lượng cao với quy mô 200 ha trên địa bàn 2 xã Khánh Trung và Khánh Cường. Đây là hai mô hình mà chúng tôi thấy sau 3 vụ sản xuất đến nay thực sự đem lại hiệu quả. Có thể nói đây là mô hình được triển khai rất rõ nét và được nông dân ủng hộ. Sự kết hợp giữa nhà nước - UBND tỉnh, huyện, nhà khoa học – Viện DTNN, nhà nông – người dân, doanh nghiệp Hồng Quang tham gia sản xuất và dám bảo lãnh giá trị sản xuất. Bước đầu sau 3 vụ sản xuất đã khẳng định thành công, tạo ra giống lúa cho người dân Yên Khánh sản xuất có chất lượng cao, cho huyện Yên Khánh, cho tỉnh Ninh Bình và các tỉnh lân cận”.

Một trong những hướng nghiên cứu trong tương lai gần của Viện Di truyền Nông nghiệp là cùng với các nhà khoa học Đan Mạch tạo ra giống lúa kháng mặn. Đây là vấn đề chiến lược đối với ngành nông nghiệp Việt Nam vì nước ta chịu ảnh hưởng rất nặng nề của tình trạng biến đổi khí hậu và nước biển dâng cao, đất canh tác bị nhiễm mặn.
    
Trần Quang Vinh