Đài Loan một nhân tố trong quan hệ Trung – Mỹ
16:59 | 09/11/2015
Tamnhin.net: Một nghị trình quan trọng trong chuyến thăm Singapo của ông Tập Cận Bình là cuộc gặp gỡ lịch sử với nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu nhằm lôi kéo Đài Loan giữ cự ly xa hơn với Mỹ, ngăn cản tình trạng li khai của đảo này ra khỏi Đại lục.
Sau khi kết thúc chuyến thăm Việt Nam, ngày 7/11/2015 ông Tập Cận Bình thăm Singapo từ chiều 6/11 tới 7/11/2015. Nghị trình quan trọng là tiến hành cuộc gặp gỡ với nhà lãnh đạo Đài Loan Mã Anh Cửu được báo chí Trung Quốc, Đài Loan và các nước đánh giá là cuộc “gặp gỡ lịch sử” trong 70 năm qua. Nghi trình này được báo chí Trung Quốc, Đài Loan và các nước đưa tin lấn át nghị trình làm việc với nước chủ nhà Singapo.
“Vấn đề Đài Loan” luôn làm Đại lục nhức nhối về nguy cơ li khai khỏi Trung Quốc để trở thành nước độc lập, từ đó kéo theo các Khu tự trị khác như Tây Tạng, Tân Cương, thậm chí cả Đặc Khu hành chính Hồng Công. Còn Mỹ luôn dùng Đài Loan làm công cụ, biến hòn đảo này thành “Tàu sân bay không bao giờ chìm” để kiềm chế Trung Quốc. Mặc dù, Mỹ thừa nhận chính sách “Một Trung Quốc”, nhưng luôn duy trì cục diện “không thống nhất, không li khai, giữ nguyên trạng” để phục vụ cho chiến lược Đông Bắc Á của mình. Bởi vậy, Đài Loan luôn là nhân tố quan trọng trong quan hệ Trung - Mỹ.
Nhìn lại lịch sử cho thấy “Vấn đề Đài Loan” cho tới ngày nay là di chứng của cuộc Chiến tranh Trung – Nhật và Chiến tranh thế giới thứ hai.Trong cuộc Chiến tranh Giáp Ngọ (1/1894) giữa Nhà Thanh và Nhật Bản, Trung Quốc bị bại trận, buộc phải ký với Nhật Bản Hiệp ước Simonoseki vào tháng 4/1895 (Hiệp ước Mã Quan), trong đó cắt cho Nhật Bản đảo Đài Loan và toàn bộ các đảo phụ cận. Bởi vậy, trong thời gian dài 50 năm từ 1895 tới năm 1945, dân chúng Đài Loan và những đảo phụ cận đều mang quốc tịch Nhật Bản. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật thua trận, Mỹ với danh nghĩa Đồng minh đã tiếp quản quyền quản lý đảo Đài Loan và các đảo phụ cận.
Tưởng Giới Thạch với danh nghĩa Đồng Minh đã tiếp nhận sự đầu hàng của quân Nhật ở Đài Loan vào tháng 9/1945, tới tháng 10/1945, tuyên bố khôi phục lại quyền cai trị đối với Đài Loan. Năm 1948 khi chính quyền Tưởng Giới Thạch bị thua trận và có nguy cơ sụp đổ, Tổng thống Mỹ khi đó là Harry Truman có ý định cắt đảo Đài Loan và Bành Hồ ra khỏi Trung Quốc trở thành xứ độc lập, không để Đài Loan rơi vào tay Cộng sản Trung Quốc. Năm 1949, khi Tưởng Giới Thạch thất thủ bỏ chạy ra Đài Loan, lấy đảo này làm căn cứ để “quang phục Đại Lục” (lấy lại Đại lục), nhưng kế hoạch bất thành, nên có hai nước Trung Quốc cùng song song tồn tại từ trước tới nay là “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” của Cộng Sản và “Trung Hoa Dân Quốc” của Quốc Dân Đảng.
Mặc dù, khi lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, Mỹ thừa nhận Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc, nhưng ban hành “Luật quan hệ Đài Loan” để giữ Đài Loan không bị sáp nhập vào Trung Quốc, biến Đài Loan thành “Tàu sân bay không bao giờ chìm” và bán lượng vũ khí không lồ cho Đài Loan, tính ra tới trên 20 tỉ USD. Bởi vậy, “Thừa nhận một nước Trung Quốc” và “Đài Loan là một bộ phận của Trung Quốc” là phương châm cơ bản nhất trong chính sách đối ngoại của Trung Quốc.
Tuy nhiên, Đài Loan trên thực tế vẫn có Tổng thống, có Hiến pháp, có chính quyền, có quân đội và tổ chức nhà nước riêng, hiện nay có khoảng 10 nước công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao. Các đời tổng thống Đài Loan trước đây như Lý Đăng Huy (1990 – 2000), Trần Thủy Biển (2000 – 2008) từng ra những tuyên bố về sự độc lập của Đài Loan, như “Hai nước Trung Quốc”, “Mỗi bờ mỗi nước”… Trung Quốc Đại lục phản ứng mạnh mẽ, đe dọa tấn công quân sự, năm 2005 ban hành “Luật chống ly khai”, cho phép Chính phủ sử dụng vũ lực tấn công đánh chiếm đảo nếu Đài Loan tuyên bố độc lập.
Kể từ đó, vấn đề Đài Loan như một cái gai làm Trung Quốc nhức nhối. Khi Quốc Dân Đảng nắm quyền, Đại lục và Đài Loan đạt được thỏa thuận gọi là “Nhận thức chung năm 1992”, tức là hai bên đều thừa nhận “Một nước Trung Quốc” và không theo đuổi chính sách “Đài Loan độc lập”. Tuy nhiên các đảng phái chính trị khác cũng như nhiều dân chúng Đài Loan không thừa “Nhận thức chung – 1992”. Họ cho rằng đây là ý chí của hai đảng chứ không phản ánh nguyện vọng chung của dân chúng Đài Loan.
Trong cuộc bầu cử địa phương năm 2014, Quốc Dân Đảng của “Tổng thống Đài Loan” Mã Anh Cửu đã bị thất bại thảm hại do những chính sách “thân Đại lục kiếm lời” của Đảng này bị dân chúng Đài Loan cực lực lên án. Uy tín của Quốc Dân Đảng và của bản thân “Tổng thống Mã Anh Cửu” bị suy giảm nghiêm trọng, trong khi đó Đảng Dân Tiến Đài Loan do bà Thái Anh Văn cầm đầu đã thắng cử giòn giã và báo hiệu Đảng này có nhiều khả năng sẽ thắng cử và lên nắm quyền trong cuộc bầu cử Tổng thống Đài Loan năm 2016. Từ trước tới nay, Đảng Dân Tiến luôn chủ trương “Đài Loan độc lập” và li khai khỏi Đại Lục, đồng thời không thừa nhận “Nhận thức chung – 1992” giữa ĐCS và Quốc Dân Đảng. Cuối tháng 5 đầu tháng 6/2015, bà Thái Anh Văn đã thăm Mỹ để thuyết phục Mỹ ủng hộ Đảng Dân Tiến và được phía Mỹ đón tiếp trọng thị. Chính vì vậy, dư luận cho rằng sắp tới lãnh đạo Trung Quốc đang đứng trước thách thức lớn về “Vấn đề Đài Loan”, nhất là tình trạng li khai ở đảo này sẽ nổi lên, đe dọa sự thống nhất của Trung Quốc.
Kể từ khi thực hiện chiến lược “Trở lại Châu Á – Thái Bình Dương””, nhất là sau khi Hiệp định “Đối tác xuyên Thái Bình Dương” (TPP) ký kết ngày 5/10/2015, tiếp đó Mỹ cho tàu chiến và máy bay tiến sát vào hải phận và không phận Trung Quốc. Dư luận cho rằng, thời gian qua uy tín và vai trò của Mỹ trong khu vực đã nổi lên, trong khi uy tín của Trung Quốc suy giảm. Đây chính là bối cảnh mà ông Tập Cận Bình cần có cuộc gặp gỡ với “Tổng thống Đài Loan” Mã Anh Cửu nhằm ngăn chặn ý đồ “Đài Loan độc lập” của Đảng Dân Tiến cũng như lôi kéo Đài Loan giữ cự ly xa hơn với Mỹ thời gian tới.
Thời gian qua, lãnh đạo hai Đảng Cộng Sản và Quốc Dân Đảng từng gặp nhau như cuộc gặp giữa Tổng bí thư Hồ Cẩm Đào với Liên Chiến, Chủ tịch Quốc Dân Đảng vào tháng 4/2005. Còn cuộc gặp gỡ ngày 7/11/2015 tại Singapo là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa hai lãnh đạo nhà nước cao nhất hai bên sau 70 năm. Năm 1945, là cuộc gặp gỡ đầu tiên giữa Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch tại Trùng Khánh. Kể từ khi lên nắm quyền từ năm 2013 tới nay, ông Tập Cận Bình đã 10 lần nhắc tới vấn đề Đài Loan, vì ông lo ngại tình trạng Đài Loan li khai thời gian tới. Bởi vậy, cuộc gặp gỡ lần này được dư luận hết sức quan tâm.
Dư luận cho rằng Mã Anh Cửu cần có cuộc gặp gỡ này để làm vốn liếng chính trị sau khi uy tín của bản thân cũng như của Quốc Dân Đảng bị suy giảm nghiêm trọng trong dân chúng và Mã Anh Cửu cần Đai lục ủng hộ cho một phiếu bàu vào năm 2016. Còn phía Trung Quốc muốn răn đe khuynh hướng “Đài Loan độc lập” của Đảng Dân Tiến nếu thắng cử và lên nắm quyền, đồng thời là một thông điệp gửi tới Mỹ không nên can thiệp và li gián Đài Loan.
Phía Mỹ bày tỏ hoan nghênh hai bờ eo biển cải thiện quan hệ, nhưng cảnh báo Đài Loan không nên quá gần gũi với Đại lục. Báo chí Đài Loan cho biết, qua thăm dò dư luận dân chúng Đài Loan cho rằng Mã Anh Cửu tìm kiếm vốn chính trị từ Đại Lục, yêu cầu ông ta phải “đối đẳng”, chứ không thể coi Đài Loan như một tỉnh của Trung Quốc.
Qua cuộc gặp gỡ này, dư luận Đài Loan và các nước cho rằng cho dù đảng nào lên nắm quyền thì Đài Loan vẫn phải thực hiện chính sách “không thống nhất, không độc lập, giữ nguyên trạng, không đối đầu”. Bởi lẽ sự phục thuộc kinh tế của Đài Loan vào Đại lục hiện rất lớn, như kim ngạch buôn bán hai bên năm 2013 đạt 197 tỉ USD, năm 2014 vẫn giữ mức 193 tỉ USD, trong khi buôn bán Đài Loan –Mỹ năm 2013 đạt 63 tỉ USD mà chủ yếu là buôn bán vũ khí, trang bị. Ảnh hưởng của Đại lục đối với Đài Loan ngày càng tăng lên, nếu li khai hoặc thực hiện “Đài Loan độc lập” rất bất lợi chẳng những cho quan hệ hai bờ mà làm mất ổn định trong khu vực.
Dư luận báo chí một số nước, nhất là Nhật Bản cho rằng sau cuộc gặp gỡ này nếu hai bờ xích lại gần nhau hơn thì cự ly Mỹ - Đài Loan xa dần và đe dọa tới ổn định Khu vực, nhất là hòa bình và ổn định ở Khu vực Biển Đông./.
Kiều Tỉnh








